Heidegger và Đức Quốc xã – Stephen Michelman

Quyết định của Heidegger vào tháng 3 năm 1933 đảm nhận chức hiệu trưởng quốc xã trường Đại học Freiburg là chương u tối và gây tranh cãi nhất trong lịch sử của chủ nghĩa hiện sinh. Hành động của Heidegger gợi sự so sánh tới mối liên hệ xui rủi của Plato, 2.300 năm trước, với Dionysius Con, bạo chúa  xứ  Syracuse. Giống như Plato, Heidegger đặt triết lý trên bệ thờ bằng nhiều hơn  những hình thức thế tục về cuộc tra vấn của con người, và giống như vị triết gia Hy Lạp hình như ông ấy coi mình là một “triết gia-vua”, người có thể sử  dụng sự thông thái của mình cho những mục đích chính trị. Vào thời kỳ đỉnh điểm của sự liên đới, Hiedegger viết cho Karl Jaspers rằng mục đích của ông khi đảm nhận chức hiệu trưởng là để “dẫn lối Lãnh tụ” (den Führerzuführen”),” [4] nghĩa là hướng dẫn Hitler trong việc làm thức tỉnh tinh thần của dân tộc Đức.

Nhìn lại ta thấy niềm tin của Heidegger cực kỳ ngây thơ. Ông ấy dường như tin rằng tầm nhìn triết học của mình thì cần thiết cho việc hướng dẫn sự phát triển của chủ nghĩa xã hội quốc gia hướng tới sự viên mãn đúng đắn, một  sự thức tỉnh chân thực của “cộng đồng tâm linh” của dân tộc(Volk ) Đức.

Heidegger từ chức hiệu trưởng vào tháng hai năm 1934 và không tiến hành bất kỳ sự phiêu lưu chính trị nào nữa. Tuy nhiên, ông vẫn tiếp tục giảng dạy tại Đại học Freiburg trong suốt Thế chiến II. Năm 1946, Uỷ ban thanh trừ chủ nghĩa Quốc xã Pháp cấm  ông giảng dạy khoảng chừng 5 năm, vào năm 1951, ông nghỉ hưu  Thời kỳ Heidegger nắm giữ chức hiệu trưởng và  sự biện bạch cũng như lảng tránh thời kỳ sau này cho những cư xử của mình đã trở thành nguyên nhân của những nghiên cứu phê bình xuất hiện từ cuối thập niên 80.[5] Khi mà sự ngây thơ và  ngạo mạn trong thái độ của Heidegger nhìn chung  không bị phản biện thì lại có nhiều ý kiến của các học giả về mức độ mà triết lý của Heidegger liên đới và do đó bị lây nhiễm bởi ý thức hệ của chủ nghĩa Phát xít.

Bản thân  Heidegger khẳng định rằng ông tin vào sự vĩ đại tiềm tàng của phong trào Chủ nghĩa xã hội quốc gia tại thời điểm đó. Tuy nhiên, hình như ông hiểu phong trào này như  một toan tính để thống nhất Dân tộc Đức xung quanh quá khứ đầy trí tuệ, văn chương và triết học của mình chứ không như một thứ chủ nghĩa phân biệt chủng tộc dựa trên yếu tố sinh học. Những hy vọng như vậy cho một “ sự tái sinh thần thánh” của nước Đức cũng được chia sẻ bởi những trí thức Đức trong thời gian diễn ra Thế chiến I gồm triết gia Max Scheler và nhà tâm lý học Wilhelm Wundt. Dường như  cái kiểu  chủ nghĩa dân tộc “thần thánh” dẫn đường các hành động của Heidegger đầu thập niên 30 chứ không phải chủ nghĩa phân biệt chủng tộc sinh học và chủ nghĩa bài Do Thái của Đức Quốc xã.[6] 

Sự diễn giải này phù hợp với những câu triết luận của Heidegger trong thời gian này. Vào năm 1935, giáo trình bài giảng “Nhập môn Siêu hình học”, Heidegger mô tả  về hiện trạng đương thời theo những thuật ngữ  vang vọng lối phán đoán hư vô luận về những sự bảo thủ khác về văn hóa và chính trị của giai đoạn đó:

Sự sụt giảm tinh thần trên trần thế đã tới mức trầm trọng đến nỗi các quốc gia đang gặp nguy hiểm khi đánh mất đi..sinh lực..để thấy được sự sụt giảm ..và chiếm hữu nó như (..) sự tối tăm của thế giới, sự trốn chạy của các vị thần..việc biến con người thành quần chúng, lòng thù ghét và nghi ngờ mọi thứ tự do và sáng tạo mà lại cứ giả vờ rằng những tỷ lệ như thế tràn lan khắp mặt đất cũng như những phạm trù ngờ nghệch như chủ nghĩa bi quan và chủ nghĩa lạc quan từ lâu đã trở thành phi lý.

Heidegger kết luận rằng giải pháp cho sự khủng hoảng tinh thần có tính toàn cầu này nằm trong tay của Đức quốc, “Quốc gia siêu hình nhất trong những quốc gia”. Ông loan báo rằng “dân tộc này [Volk: dân tộc], như một dân tộc  sử  tính phải tự thân chuyển dịch và bằng cách ấy chuyển dịch cả lịch sử của phương Tây… thành địa hạt nguyên sơ thuộc về những quyền năng của hữu thể” (Nhập môn Siêu hình học, 38). Do vậy, chủ nghĩa dân tộc của Heidegger có tính triết học và siêu hình một cách sâu sắc. Ông tin rằng “tinh thần” vô song  của dân tộc Đức mà sự bén rễ  đã sâu chắc trong ngôn ngữ Đức và truyền thống trí thức Đức có thể cung cấp “năng lượng  tinh thần” để lãnh đạo châu Âu vượt thoát khỏi ngõ cụt của chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản vốn đang đe dọa lục địa này từ cả hai phía. Thật tai quái khi ông tin là chủ nghĩa xã hội quốc gia lại có thể đại diện cho cơ hội tốt nhất đấu tranh chống lại các thế lực của sự tha hoá và sự hiện đại hoá vốn trước đó đã đưa châu Âu tới con đường đổ nát.

Dù những quan điểm hoang tưởng  của Heidegger có thể xuất hiện trong thời đại hôm nay cho chúng ta biết nhưng người ta cũng nên hồi cố lại sự tiên báo của ông về sự suy sụp toàn cầu mà nhiều người Đức trong thời kỳ này cũng chia sẻ  như vậy bởi vì nước Đức thập niên 20 và đầu những năm 30 rơi vào cuộc chuyển biến xã hội liên tục, sự bất ổn chính trị và tình trạng bất chắc của nền kinh tế. Sau cú sốc và sự nhục nhã của nước bại trận trong Thế chiến I và những bồi thường do Hiệp ước Versailles yêu cầu, nhiều người Đức đã xem chính phủ Weimar vừa mới ra đời ( một nền dân chủ nghị viện) là yếu kém và bất lực. Trong làn song công nghiệp hóa được đẩy nhanh bởi chiến tranh, công nhân từ vùng nông thôn đổ xô ra các thành phố, và cuộc sống thôn quê truyền thống đã đổ vỡ. Chủ  nghĩa Cộng sản tiếp tục là mối đe dọa đang thành hình vì Cuộc cách mạng Nga có nguy cơ bị nhập cảng vào  phương Tây. Những người bảo thủ hy vọng một sự  quay về với chính phủ  độc tài có thể tạo ra một nước Đức thông nhất, mạnh mẽ hơn. Có lẽ, một số người nghĩ rằng đi đến bờ vực của hố thẳm có thể khích động một “sự tái sinh” của sự vĩ đại Đức.

Từ “khủng hoảng” do đó xuất hiện một cách thường xuyên trên môi những nhà văn và những nhà chính trị mị dân thời kỳ này. Người nổi tiếng nhất trong số này, Oswald Spengler, tác giả cuốn sách bán chạy Sự suy tàn của phương Tây, cảnh báo rằng tình hình tại nước Đức đang biểu hiện cho một tâm bão của một cuộc khủng hoảng với qui mô “lịch sử toàn cầu” báo hiệu kết cục của nền văn minh phương Tây. Thế chiến I, Spengler cho biết, đã trở thành “không chỉ đợt sấm chớp đầu tiên từ những đám mây xuyên qua thế kỷ của chúng ta mang theo cả định mệnh. Mô hình thế giới đang được tạo dựng lại từ nền móng”.[8] Trong khi những chi tiết trong luận cứ theo thuyết Hegel lỏng lẻo của Spengler bị chỉ trích bởi những sử gia và triết gia Đức, bao gồm cả Heidegger, nhận thức của ông về một cuộc khủng hoảng nhỡn tiền được chấp nhận rộng rãi; sự chẩn đoán của Spengler trở nên hợp lý hơn sau khi nước Đức rơi vào Cơn đại suy thoái vào năm 1930. Những tiếng nói có ảnh hưởng khác gồm cả nhà lý luận chính trị và luật gia theo xu hướng phản động Carl Schmitt, một giáo sư đại học thành công ủng hộ sự cần thiết  của một thể chế độc tài nhằm đạt được sự thống nhất và sức mạnh quốc gia. (Schmitt tiếp tục trở thành nhà lý luận pháp lý hàng đầu của chế độ Quốc xã). Ernst Jünger, một cựu binh được thưởng huân chương cao quí trong Thế chiến I đã mô tả trải nghiệm giống như tôn giáo về người lính chìm đắm trong trận chiến. Trong cuốn sách được đọc rộng rãi Công nhân, Jünger tiên báo một thời kỳ “tổng động viên” trong đó các lực lượng của xã hộicông nghệ đông đảo ( chủ nghĩa Cộng sản ở phương Đông, chủ nghĩa Tư bản ở phương Tây) sẽ  tiến hành một cuộc tranh đấu giành quyền thống trị thế giới, và cá nhân bị gộp vào số đông, sẽ được tôi luyện để trở thành một “mẫu”người mới, một chiến binh-công nhân quên mình.

Do  nền tảng  và khí chất bảo thủ có sẵn, Heidegger dễ dàng bị ảnh hưởng bởi những dự đoán có tính hư vô như vậy. Được nuôi dưỡng trong một thị trấn thôn quê nhỏ trong một gia đình Ki-tô giáo bảo thủ  có thu nhập khiêm tốn, ông không ưa thích  sự bon chen và hối hả  vô danh của những thành phố lớn và dường như muốn khao khát quay về những hình thức đời sống tiền công nghiệp. Tận trong đáy lòng, Heidegger là  người phản-hiện đại và phản-dân chủ, ông không tin  vào chủ nghĩa bè phái của chính trị hiện đại và hình dung nên một Đức quốc giản dị, xã hội tương liên được thống nhất xung quanh những tập quán, tính cách và truyền thống trí tuệ. Vì những lý do kể trên, không khó để hình dung ra tại sao biểu tượng của Chủ nghĩa xã hội quốc gia đầu những năm 30, cụ thể là  kêu đòi của nó đối với giá trị lao động, sự hợp tác và đời sống tự nhiên cũng như  sự  bác bỏ cuộc sống đô thị tha hóa đã cưỡng bách ông ấy như thế nào.

Trịnh Ngọc Thìn dịch

Bình Phước 13/6/2013

Chỉnh sửa và bổ sung, 15/4/2017

Dịch từ bản tiếng Anh:

POLITICS AND EXISTENCE: HEIDEGGER AND NATIONAL SOCIALISM, Historical Dictionary of Existentialism, Historical Dictionaries of Religions, Philosophies, and Movements, No. 82, Stephen Michelman, The Scarecrow Press, Inc. Lanham, Maryland • Toronto • Plymouth, UK: 2008.

Chú thích của tác giả:

[4]  Trích từ, Julian Young, Heidegger, Triết lý, Chủ ngĩa  Quốc xã (Cambridge: Cambridge

University Press, 1997), 17.

[5]  Danh sách những ấn phẩm nằm trong phần thư mục

[6]  Sự phản bác chi tiết luận cứ này, xem Young, Heidegger, Triết lý, Chủ ngĩa  Quốc xã

[7]  Heidegger, Nhập môn siêu hình học, người dịch Ralph Manheim (New

Haven: YaleUniversity Press, 1959), 38.

[8] Trích từ  Hans Sluga, Cuộc khủng hoảng của Heidegger: Triết học và Chính trị trong Chế độ Phát xít Đức (Cambridge, Mass.: Harvard University Press, 1993), 55.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s