Kịch: Nữ ca sĩ hói đầu (Eugène Ionesco)

ĐÔI LỜI GIỚI THIỆU VỀ TÁC GIẢ

eugene-ionesco
Eugène Ionesco
Sinh tại: Rumani
Sống tại: Pháp
Sinh năm: 26 – 11 – 1912
Năm mất: 28 – 3 – 1994

Gia đình: cha là người Rumani, mẹ là người Pháp.  

Thể loại sáng tác:
– Kịch phi lý
– Tiểu thuyết
– Truyện ngắn

Sự nghiệp văn chương:
Nhà văn nổi tiếng của Pháp với những vở phản kịch từng đặc biệt chiếm lĩnh sân khấu. Ionesco nổi tiếng rất muộn và cũng chỉ nổi tiếng với kịch. Dường như bản thân nhà văn là một tiềm năng để phát ra những tín hiệu mâu thuẫn trong tác phẩm: người nước ngoài viết tiếng Pháp, người không thích kịch trở thành nhà viết kịch, người phản ứng với “những hiệu quả to kệch” sẽ sử dụng chính cái cơ bản ấy của sân khấu, sau cùng người mà trong thời sinh viên, đã dự định viết luận văn về “Đề tài tội lỗi và cái chết trong thơ pháp từ Baudelaire”. Ông cũng có thể được coi là tiên phong “kịch phi lý”. Mở đầu bằng “Nữ ca sẽ hói đầu”(1950) kịch của Ionesco đã di chuyển địa điểm công diễn từ Rạp “Những người dạo chơi đêm” tới kịch viện Pháp: con đường ấy đã đủ nói lên thử thách và thành công – đầy sóng gió – của nhà viết “Kịch mới”, “phản kịch”. Từ Nữ ca hói đầu tới Bài học (1951), Những chiếc ghế (1952), Nạn nhân của nghĩa vụ (1953), với những vở Amédée hay Làm thế nào để rũ bỏ được (1954), Jacques hay là sự khuất phục (1955), vở Giết người không công (1959)… kịch của ông trở thành những tác phẩm mẫu mực, tiêu biểu cho kịch phi lí. Ông thường sử dụng lối nhại, sự hài hước đen, và với lối viết trần trụi giản dị song cái giọng nói khác biệt ấy gây một phản ứng khác thường vừa nực cười vừa bứt rứt ở khán giả. Khai thác những hình thức sân khấu cổ truyền, vòng tròn luẩn quẩn của kết cấu kịch tạo nên không khí dị biệt của phản kịch cũng như một cái nhìn vừa bi đát, vừa kệch cỡm
Giải thưởng: Giải Goucort
Các sáng tác
– Sự nổi giận (La colèr, 1961)
– Bức ảnh của ông đại tá (La photo du colonen, 1962)
– Sự cô đơn (La solitaire, 1973)
– Những phương thuốc (Antidotes tiểu luận, 1977)
– Nữ ca sĩ hói đầu (La cantatrice chauve, 1950)
– Bài học (La lecon, 1951)
– Những cái ghế (Les chaises, 1952)
– Bậc thầy (Le meitre, 1951)
– Những nạn nhân của bổn phận (Victimes du devior, 1953)
– Con gái đến tuổi lấy chồng (La jeune fille a marier, 1953)
– Người thuê nhà mới (Le nouveau locataire )
– Cái bảng (Le tableau, 1954)
– Amédée (1954)
– Kẻ giết người không công (Tueur sans gages, 1958)
– Tê giác (Le rhinocéros, 1959)
– Kẻ bộ hành trên không (Piétion l air, 1962)
– Ông vua chết dần (Le roi se meurt, 1963)
– Đói và khát (La soif et la faim, 1964)
– Macbett (1972)
– Nhà chứa kinh khủng ấy (Ce formidable bordel, 1973)

(Nguồn http://cinet.gov.vn)

Tiếp cận “Nữ ca sĩ hói đầu”- Ionesco dưới cái nhìn của phân tâm học

                                                                                                 Sơn Huyền

Thế kỉ XX có ba sự đảo lộn lớn trong đời sống tinh thần nhân loại: chủ nghĩa Marx, thuyết tương đối của Enstein và phân tâm học. Với tư cách là người sang lập phân tâm học, Sigmund Freud(1856- 1939) được mệnh danh là “Newton của tâm hồn”. Ông là một bác sĩ thần kinh sinh ra và lớn lên ở Viene, thủ đô của nước Áo, một trung tâm văn học lớn ở Tây Âu cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. Từ những quan sát lâm sang của căn bệnh thần kinh, Freud đã tiến tới một lý thuyết khái quát về vô thức. Ông cho rằng nguồn gốc của bệnh nhiễu tâm là do những ham muốn bị bỏ quên liên quan đến “mặc cảm oedipe” và sự không dung hòa của nó với các ham muốn khác hoặc với đạo đức. Những ham muốn bị dồn nén này tiếp tục tồn tai trong vô thức và chúng chỉ có thể ùa vào ý thức trong điều kiện đã ngụy tảng để tránh sự kiểm duyệt. Bởi vậy, ngoài chứng nhiễu tâm còn có những giấc mơ và những hành vi vô thức hoặc những sáng tạo nghệ thuật như là sự thăng hoa của vô thức bị dồn nén. Những nghiên cứu của Freud cũng chính là cơ sở lý thuyết của việc thực hành phân tâm chữa bệnh. Nhưng phân tâm học không chỉ ảnh hưởng trong lĩnh vực điều trị bệnh cho bệnh nhân tâm thần mà còn có ảnh hướng lớn đến phê bình văn học. Ngoài việc đóng góp vào tâm lý học sáng tạo nghệ thuật, phân tâm học còn làm thay đổi quan niệm về tác giả, tác phẩm và tạo ra một phương pháp phê bình mới: phê bình phân tâm học.
Sinh thời, mặc dù đọc nhiều sách văn học nhưng Sigmund Freud không có những tác phẩm lớn, hoàn chỉnh về lĩnh vực này. Ông chỉ có vài tác phẩm nhỏ như một thứ phân tâm học ứng dụng vào văn học nghệ thuật, như: Sự mê sảng và những giấc mơ trong Gravida của W. Jensen(1907); Một kỉ niệm của thời thơ ấu của Leonard de Vinci (1910)…Nhưng ông có nhiều bài phát biểu, nhận xét ở nhiều công trình khác và tổng hợp lại, nó thể hiện quan niệm của ông về tác phẩm văn học và cách đọc nó từ góc độ phân tâm.
Với Freud, tác phẩm văn học trước hết là một giấc mơ. Nó phản ánh những ham muốn vô thức, những mặc cảm, đặc biệt là mặc cảm oedipe. So sánh tác phẩm với giấc mơ, nhà phân tâm học thiết lập được sự giống nhau giữa chúng. Trước hết, cả hai, văn bản và giấc mơ đều là kí hiệu của sự ham muốn. Có điều vô thức của nhà thơ nói bằng ngôn ngữ khác với ngôn ngữ của giấc mơ. Nhà thơ mượn ở vô thức tập thể những huyền thoại hoặc truyền thuyết. Và cũng như tác phẩm, giấc mơ cũng có một ngữ pháp, nhờ đó mà sắp xếp lại được những hình ảnh- kí hiệu lộn xộn, ngẫu nhiên theo một cách nào đó để tìm ra ý nghĩa
Đồng nhất sự sáng tạo với giấc mơ tỉnh thức, Freud cho rằng ở mỗi sự kiện thời sự và nóng hổi của tác phẩm văn học, mỗi người sáng tạo đều gửi gắm vào đấy những kỉ niệm về một sự kiện xa xưa hơn, thường hơn cả là sự kiện ấu thơ…Từ đó người đọc tác phẩm văn học cũng có cơ hội để gợi nhớ những sự kiện khuất lấp của mình. Theo ông, sáng tạo văn học cũng là lĩnh vực của huyễn tưởng, của giấc mơ tỉnh thức. Và qua đó, tác giả tạo ra những hoàn cảnh, những trường hợp của tiểu thuyết hoặc kịch. Nhưng những nhân vật của giấc mơ tỉnh thức bao giờ cũng là những người mơ, được thể hiện trực tiếp hay đồng nhất với kẻ khác. Nhà thơ phóng chiếu và cấu trúc hóa các huyễn tưởng thành hình tượng văn học. Có hai loại huyễn tưởng và tương ứng là có hai cách thức tạo nên tác phẩm văn học: cách thứ nhất là sự ghép lại hiện thực, nó bổ sung cho thế giới; cách thức hai là nhà văn sáng tạo ra một thế giới khác hẳn với thế giới hiện thực. Freud cho rằng: ” Người nghệ sĩ giống như người loạn thần kinh, anh ta tự rút vào thế giới tưởng tượng ấy, cách biệt khỏi cái hiện thực không làm anh ta thỏa mãn. Nhưng khác với người loạn thần kinh, người nghệ sĩ biết cách làm thế nào tìm lại được con đường hiện thực vững chắc. Các tác phẩm của anh ta là sự thực hiện tưởng tượng những khát vọng vô thức giống hệt như những giấc mơ. Vả chăng, giấc mơ và tác phẩm có điểm chung đều là sự thỏa hiệp, vì cả hai đều phải tránh đương đầu trực tiếp với các lực dồn nén. Tuy nhiên, trái với những sản phẩm giấc mơ phi xã hội và mang tính tự si, tác phẩm sáng tạo của nghệ sĩ bộc lộ khả năng khơi gợi mối đồng cảm ở những người khác, đánh thức và làm thỏa mãn chính những khát vọng vô thức ấy nơi họ”
Sau Freud, nhiều học trò của ông cũng đi vào con đường phân tâm văn học. Áp dụng lý thuyết phân tâm trong phê bình văn học nghệ thuật, theo truyền thống người ta phân biệt thành hai trường phái: Trường phái làm việc trên tác giả và tiểu sử tác giả và trường phái tập trung vào văn bản, tức là người ta không quan tâm đến tác giả mà chỉ nghiên cứu các ý nghĩa vô thức trong văn bản. Tiêu biểu cho trường phái thứ hai là Jean Bellemin- Noel với tác phẩm “ Hướng tới vô thức của văn bản” (1979); và tiêu biểu hơn là Charles Mauron, người đã kết hợp cả hai khuynh hướng (văn bản và tiểu sử) trong những phân tích tâm lý của mình: “Những ẩn dụ ám ảnh về huyền thoại cá nhân”; “Nhập môn phê bình tâm lý” và “Vô thức trong tác phẩm và cuộc đời của Racine”.
Soi chiếu lý thuyết của phân tâm học áp dụng vào trong vở kịch “Nữ ca sĩ hói đầu” của Eugene Ionesco, có thể nhận thấy cảm quan của nhà văn về con người, về cuộc đời thể hiện trong sáng tác của ông nói chung và trong vở kịch này nói riêng gắn liền với ẩn ức về một tuổi thơ chất chứa những ấn tượng đau buồn. Mẹ của ông, Therese Icard là người phụ nữ dịu dàng nhưng rất yếu, chưa biết sống chết lúc nào lại thêm đau khổ vì cách đối xử tàn tệ của chồng. Eugene thương mẹ bao nhiêu thì lại ghét bố bấy nhiêu và điều đó hằn sâu trong nhiều sáng tác của ông sau này. Các ấn tượng đầu tiên ấy cũng góp phần hình thành, nuôi dưỡng tư tưởng bi quan của nhà văn về kiếp sống mong manh đau khổ trên trần thế và về những tình cảm của con người với nhau trong xã hội. Chính cảm quan vô thức đó của nhà văn đã quy định hệ thống nhân vật, hệ thống biểu tượng và tổ chức hành động của vở kịch.
Những nhân vật trong vở kịch không nhiều, chỉ là hai cặp vợ chồng ông bà Smith và ông bà Martin , cô hầu phòng Marry và anh đội trưởng đội cứu hỏa. Họ thực chất là vợ chồng nhưng biểu hiện trong tác phẩm lại như những người xa lạ (ông bà Smith), thậm chí còn không nhận ra người đã sống cùng mình (ông bà Martin). Theo cách lý giải của phân tâm học thì những ẩn ức ấu thơ bị dồn nén và lãng quên về mối quan hệ giữa cha mẹ của chính tác giả đã kiến tạo nên quan điểm của tác giả về mối quan hệ giữa những nhân vật của mình, điều mà chính tác giả cũng không hề nhận thấy. Trong mỗi hình tượng nhân vật, theo Jean Bellemin- Noel, bao giờ “cũng kết tinh một phần nhỏ tâm lý con người và số phận con người,một phần nhỏ nỗi đau và niềm vui”. Mỗi nhân vật trong “Nữ ca sĩ hói đầu” đều thể hiện một phần tâm lý và một phần nhỏ nỗi đau của Ionesco về chính bản thân nhà văn và về thời đại. Những nỗi đau của tuổi thơ hằn in dấu vết cùng với nỗi đau về một thời đại mà mọi thứ đều đảo lộn. Chiến tranh thế giới thứ hai nối tiếp chiến tranh thế giới thứ nhất đã đặt phương Tây một lần nữa đối mặt với một thực cảnh u tối, giới trí thức lại một lần nữa rơi vào nguy cơ khủng hoảng chính trị, tinh thần, tư tưởng trầm trọng, quan niệm đạo đức, tiêu chuẩn giá trị truyền thống bị biến mất, tinh thần bất an, bi quan thất vọng trở thành tâm trạng chung của phần tử trí thức châu Âu. Chủ nghĩa hiện sinh lấy “tự ngã” làm hạt nhân tồn tại, cho rằng tất cả thế giới vạn vật chỉ à biểu hiện của “tự ngã”, bổ sung hoặc ngăn cản, cho rằng tự ngã và thế giới có quan hệ thù địch, con người và con người không có sự giao lưu, con người đều tồn tại trong thế giới lạnh lẽo xa lạ, từng nhận sự ám ảnh về khổ đau và cái chết của cuộc sống mà không làm gì được. Trạng thái tồn tại này đã không thể giảng giải, mà còn không có một quy luật nào, và cuối cùng chỉ có thể nói là sự tồn tại phi lí. Tình trạng phi lí của thế giới là không thể cứu vớt, hành động của con người đều không có một chút ý nghĩa nào, những việc mà con người làm đều thiếu mục đích, tất cả những điều này dẫn đến trạng thái thống khổ cùng cực của con trên tầm vĩ mô. Cái phi lý được không ít triết gia và các nhà nghiên cứu phương Tây nhận định là căn bệnh của thế kỉ XX, khi con người mất hết niềm tin trước sự đổ vỡ của những giá trị bền vững. Có thể nói , những dấu vết đó đã thể hiện sâu sắc trong tư tưởng của Ionesco, tạo nên một sự khủng hoảng mang tính sáng tạo trong thế giới tinh thần đầy những vết thương của nhà văn..
Theo Freud, thực sự người nghệ sĩ đã vượt qua trạng thái nhận thức và quá trình trải nghiệm của họ. Họ là những nhà tiên tri mang lại một hiện thực dữ dội và đặt vào tác phẩm một “sự hiểu biết tâm lý nội tại”. Bởi vậy mà trong sáng tác của mình, Ionesco luôn tìm cho mình một chỗ đứng tới hạn,mở rộng biên độ của cái tôi và gia nhập vào một thế giới chênh vênh mất thăng bằng. Những nhân vật trong vở kịch “Nữ ca sĩ hói đầu” dường như lúc nào cũng chênh vênh, cũng trong tình trạng mất phương hướng, lạc lõng với ý thức. là kiểu nhân vật “đứa bé vĩnh viễn không rời vú mẹ”, mãi mãi không dứt ra khỏi trạng thái hạnh phúc và đòi hỏi được người khác nuôi dưỡng mãi mãi là dấu vết của vô thức mà thuyết Phân tâm học có thể đặt chân tới. Tính phi lý của sự tồn tại cũng như sự vô nghĩa lý trong đời sống tinh thần của nhân vật được biểu hiện rõ qua sự phi lý của thời gian, trình tự thời gian tuyến tính của tất cả các sự kiện không chỉ bị đảo lộn mà còn hoàn toàn bị phá vỡ. Các nhân vật nói năng một cách hết sức phi lý bởi vì họ chẳng ý thức được mình nói gì, một đời sống tình thần rỗng tuếch, nhạt nhẽo, tê liệt mọi năng lực cảm xúc và nhận thức được biểu hiện qua những lời lẽ hoàn toàn vô nghĩa, vô cảm khi họ nói về mình cũng như những người khác. Con người dường như bị mù lẫn trong thời gian, trong chính thế giới của họ.
Với Ionesco, các mặt đối lập nhòe vào nhau, đúng như nhau mà sai cũng như nhau, chẳng biết đâu là chân lý. Ông viết: “ Chẳng có gì là tàn bạo. Tất cả đều tàn bạo. Chẳng có gì là buồn cười. Tất cả đều bi đát. Chẳng có gì là bi đát, tất cả đều buồn cười, tất cả đều thực, không thực…có thể hiểu nổi, không thể hiểu nổi….”. Loạn thần kinh chăng? Ionesco khẳng định: “ Nếu không loạn thần kinh thì chẳng có văn học. Sức khỏe không có tính chất thơ ca cũng chẳng có tính chất văn chương”. Viết kịch như một trạng thái của người loạn thần kinh nên vở kịch của Ionesco cũng tồn tại như trong một giấc mơ với những mảnh chắp nối không liền mạch. Căn bệnh tâm thần hướng tới cái không thể định dạng : một cái nhìn bị xuyên thấu bởi chữ nghĩa, một tác phẩm bị chọc thủng bởi cái không thể nghe thấy, không thể nhìn thấy. Nhân vật bị mất bề dày tâm lý. Mối quan hệ nhân quả giữa tâm lý và hành vi bị xóa bỏ và một điều hiển nhiên là nhân vât nói năng, hành động hoàn toàn do ngẫu nhiên, không bị chi phối bởi ý thức chủ quan và lý trí. Ở cảnh 1, đoạn đối thoại của bà Smith và ông Smith:
“- Ông Smith (tiếp tục đọc báo): Đây này, báo viết là Bobby Watson đã chết.
Bà Smith: Lạy Trời, thật tội nghiệp, ông ta chết khi nào ?
Ông Smith: Làm gì mà bà tỏ ra ngạc nhiên đến thế ? Nói cho cùng thì bà cũng biết chuyện này rồi. Ông ấy chết đã được hai năm. Bà hãy nhớ xem, chúng mình đã đi dự đám tang ông ấy cách đây một năm ruỡi.
Bà Smith: Tất nhiên là tôi nhớ chứ. Tôi nhớ lại ngay chuyện đó nhưng tôi không hiểu tại sao chính ông cũng tỏ ra ngạc nhiên đến thế khi đọc tin này trên báo.
– Ông Smith: Chuyện đó không phải được đăng trên báo. Người ta đã nói về cái chết của ông ấy từ hơn ba năm nay rồi. Tôi nhớ chuyện đó là do một sự liên tưởng thôi !
Bà Smith: Thật đáng tiếc ! Xác ông ta được bảo quản rất tốt.
– Ông Smith: Đó là một cái xác đẹp nhất nước Anh ! Nó phản ánh đúng tuổi tác của ông ta. Tội nghiệp Bobby, đã bốn năm nay kể từ khi ông ta chết mà xác ông ta vẫn còn ấm. Đúng là một cái xác sống thực sự. Và ông ta tỏ ra vui nhộn biết bao !
Bà Smith: Tội nghiệp Bobby.
Ông Smith: Bà muốn nói tội nghiệp “ông” Bobby đấy chứ ?
Bà Smith: Không tôi đang nghĩ đến vợ ông ấy. Tên bà ấy cũng giống như tên ông ấy, Bobby, Bobby Watson. Vì họ cùng tên nên khi nhìn họ đi cùng nhau thì khó phân biệt được họ với nhau. Chỉ đến khi ông ấy chết đi thì người ta mới biết ai là chồng, ai là vợ. Tuy nhiên, cho đến tận hôm nay mà vẫn có người còn nhầm bà ấy với người chồng đã chết và vẫn còn gửi lời chia buồn đến ông chồng. Ông có biết bà ấy không ?
– Ông Smith: Tôi chỉ tình cờ được nhìn thấy bà ấy một lần duy nhất tại đám tang ông Bobby.
Bà Smith: Tôi chưa bao giờ gặp bà ấy. Bà ấy có đẹp không ?
Ông Smith: Bà ấy có những đường nét đều đặn nhưng tuy thế vẫn không thể nói là một người đàn bà đẹp. Bà ấy quá cao và đẫy đà. Bà ấy không có những đường nét đều đặn nhưng tuy thế vẫn có thể nói rằng bà ấy rất đẹp. Bà ấy hơi nhỏ người và hơi gầy. Bà ấy là giáo sư thanh nhạc.”
Ở những cảnh sau lời thoại cũng được đưa ra lộn xộn, sự gắn kết các lời thoại theo trình tự tuyến tính bị phá vỡ bởi các yếu tố phi logic, trong đó sự phi lý của thời gian được biểu hiện rõ rệt nhất. Chính sự phá vỡ đó đã tạo ra một sự cộng hưởng ngữ nghĩa chứ không phải sự liên kết ngữ nghĩa theo mạch thông thường. Cái không khí của cuộc thoại là điều mà tác giả muốn và đã biểu hiện được một cách hết sức độc đáo. Ông bà Smith nói về cái chết, đám cưới của vợ chồng Bobby Watson nhưng độc giả lại có thể cảm nhận thấy cái chết của chính họ – cái chết trong sống, cái chết của một đời sống bị đầu độc và tự đầu độc bởi điều rỗng tuếch, khoa trương và vô nghĩa đến thê thảm. Con người hiện ra thật thảm hại. Lý trí, trí tuệ, cái làm cho con người trở thành người bị giày xéo, chà đạp thậm tệ. Đầu óc của con người còn óc gì đáng tin cậy nữa khi ông bà Smi nói năng như kẻ loạn tâm thần, còn hai vợ chồng Martin hàng ngày vẫn chung sống mà hôm ấy mãi mới nhận ra nhau, khi cô hầu Marry thưa với chủ là buổi chiều cô ta “đi đến rạp chiếu bóng với một người đàn ông và xem phim với những người đàn bà”. Sự phá hủy đến kiệt cùng của ngôn ngữ trong vở kịch càng khẳng định trạng thái cô đơn, đau khổ, tha hóa của con người, cái phi lý của cuộc đời. Ionesco khẳng định cái phi lý của ông là cái phi lý siêu hình: “Đôi khi tôi gọi cái điều tôi không hiểu là phi lý…Tôi cũng gọi con người đi lang thang, không mục đích, con người bị chặt đứt khỏi gốc rễ siêu nghiệm của nó là con người phi lý…Tất cả những cái đó là sự thể nghiệm của phi lý siêu hình, điều bí ẩn tuyệt đối”. Rõ ràng, cái phi lý trong “ Nữ ca sĩ hói đầu” xuất phát từ chính sự khủng hoảng trong vô thức của nhà văn và được thể hiện ẩn nấp đằng sau nhân vật và hệ thống ngôn ngữ đối thoại trong tác phẩm.
Tiếp nhận tác phẩm từ góc độ phân tâm học sẽ giúp chúng ta lý giải chiều sâu vô thức của văn bản được hình thành trên cơ sở vô thức của người nghệ sĩ. Ám ảnh về sự đổ vỡ, về sự khủng hoảng của niềm tin tuyệt đối được bao trùm trong toàn bộ vở kịch là cảm nhận mà người đọc được hòa nhập và được khơi gợi. Đi sâu vào vô thức của văn bản và tác giả của vở kịch, có lẽ người đọc bắt gặp chính vô thức của chính mình trong đó, một vô thức tồn tại như điều tất yếu ở những con người sống trong thời đại khủng hoảng, đổ vỡ mọi niềm tin tuyệt đối vào chính bản thân mình.

(Nguồn: http://damau.org/archives/16038)

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s