Tranh sơn thủy (P4)

Người Mãn Châu lật đổ Minh triều vào năm 1644.Tuy nhiên, triều đình nhà Thanh lại cực kì ngưỡng mộ văn hóa Trung Quốc và thúc đẩy truyền thống văn nhân họa với sự ủng hộ của Đổng Kì Xương.Văn nhân họa [thời kì này] được biết tới như trường phái chính thống.Đại diện tiêu biểu nhất cho trường phái này là nhóm họa sĩ Tứ Vương.Họa sĩ thời kì đầu của nhóm là Vương Thời Mẫn (王時敏, 1592–1680), ông học vẽ từ chính Đổng Kì Xương.Giống như thầy mình, Vương Thời Mẫn ngưỡng mộ sâu sắc thái độ khoáng đạt, tiêu sái của Hoàng Công Vọng và thường vẽ theo kiểu ẩn dật thời nhà Nguyên. Vương Giám (王鑑, 1598–1677), bạn thân của Vương Thời Mẫn, cũng học cùng Đổng Kì Xương nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, thậm chí còn là môn đồ tận tụy hơn nhiều của các bậc thầy thời nhà Nguyên.Họa gia tài năng hơn hai người trên là Vương Huy (王翬, 1632–1717). Ông là thư sinh  nghèo được giới thiệu tới chỗ Vương Thời Mẫn và trở thành đồ đệ của ông.Người cuối cùng trong bộ tứ đó là Vương Nguyên Kì (王原祁, 1642–1715).Có lẽ ông là họa gia tài năng và độc đáo nhất trong nhóm bốn họa sĩ kể trên.Vì là cháu trai của Vương Thời Mẫn cho nên ông được thăng lên bậc đại quan và cũng là bề tôi được hoàng đế Khang Hy sủng ái. Tứ Vương và đám môn đồ cố gắng đạt được phong cách “tổng hợp  mà Đổng Kì Xương ủng hộ, họ cũng học và thực hành theo phong cách của những bậc thầy thời nhà Tống và nhà Nguyên.

clearing-after-snow.jpg

Vương Thời Mẫn (thời nhà Thanh) – Phỏng Vương Duy giang sơn tuyết tễ-Bảo tàng Cung điện Quốc gia ,Đài Bắc, Đài Loan

zhao-danian-style.jpg

Vương Giám (thời nhà Thanh) – Triệu Đại Niên phỏng cổ sơn thủy đồ – Viện bảo tàng Mỹ thuật Metropolitan, Hoa Kỳ

wang-yuanqi_autumn-mountains.jpg

Vương Nguyên Kì (thời nhà Thanh)- Phỏng Hoàng Công Vọng sơn thủy đồ

 

Advertisements

Tranh sơn thủy (P3)

Dưới thời nhà Nguyên (1271–1368), khi mà phần lớn trí thức Trung Quốc  bị cấm không được phục vụ  triều đình, mẫu hình thoái bộ của  văn nhân nhà Tống phát triển lên thành một kiểu văn hóa thay thế lớn mạnh khi mà giới tinh hoa biến điền trang của mình thành những địa điểm gặp gỡ văn chương và những theo đuổi văn hóa khác.Những cuộc gặp gỡ này thường được nhớ đến trong những bức họa mà trong đó  thay vì mô tả  chân thực về một địa điểm có thật lại truyền đi những ý tưởng văn hóa chung về một thế giới ẩn dật thông qua bức phác họa nhanh có tính tượng trưng trong đó một túp lều tranh đơn sơ lại tượng trưng cho một dinh cơ  bề thế. Bởi vì xưởng vẽ hoặc khu vườn của một con người có thể xem như sự mở rộng bản ngã của anh ta cho nên những bức họa về các địa điểm đó thường được sử dụng để diễn tả giá trị của chủ nhân. Vẽ không còn là mô tả thế giới khả thị nữa; nó trở thành một phương tiện ngõ hầu truyền tải cảnh quan bên trong tâm trí người họa sĩ.Những họa gia nổi danh thời kì này bao gồm Triệu Mạnh Phủ (趙孟頫) và Tứ Đại Gia ,cụ thể gồm Hoàng Công Vọng (黃公望), Ngô Trấn (吳鎮), Nghê Toản (倪瓚) và Vương Mông (王蒙).

zhao-mengfu_autumn-colors-1024x255-810x500.jpg

Triệu Mạnh Phủ (thời nhà Nguyên)- Thước hoa thu sắc -Bảo tàng Cung điện Quốc gia ,Đài Bắc, Đài Loan

 

huang-gongwang_fuchun-mountains_part.jpg

Hoàng Công Vọng (thời nhà Nguyên)- Phú Xuân sơn cư đồ

wu-zhen_dongting-409x1024-300x580.jpg

Ngô Trấn (thời nhà Nguyên) -Động Đình ngư ẩn đồ – Bảo tàng Cung điện Quốc gia ,Đài Bắc, Đài Loan

ni-zan_rongxi-studio-487x1024-300x580.jpg

Nghê Toản (thời nhà Nguyên)- Dung Tất trai đồ- Bảo tàng Cung điện Quốc gia ,Đài Bắc, Đài Loan

wang-meng_ge-zhichuan-moving-to-the-mountains-424x1024-300x580.jpg

Vương Mông (thời nhà Nguyên)- Cát Trĩ Xuyên di cư đồ -Cố Cung bác vật viện, Bắc Kinh

 

Suốt thời nhà Minh (1368–1644) khi mà quyền cai trị trở về tay người Trung Quốc , các họa sĩ cung đình với chủ soái là Đái Tiến (戴進) đã cho ra những quan niệm bảo thủ nhằm phục hồi ẩn dụ thời nhà Tống khi coi quốc gia như khu vườn thượng uyển ngăn nắp trong khi những họa sĩ –văn nhân lại theo đuổi những mục đích có tính tự biểu hiện thông qua thứ ngôn ngữ văn chương của  học giả-họa sĩ thời nhà Nguyên.Thẩm Chu (沈周) , người sáng lập Ngô môn họa phái, tập trung vào thành phố thế giới là Tô Châu và đồ đề xuất sắc của ông là  Văn Trưng Minh (文徵明) đã minh họa cho những lý tưởng của văn nhân thời nhà Minh. Cả hai họa gia đó đều hiến đời mình cho việc tự trau dồi khi dành cả đời để giải thích lại phong cách vẽ của các học giả-họa sĩ thời nhà Nguyên.

shen-zhou_mount-lu-518x1024-300x590.jpg

Thẩm Chu (thời nhà Minh)- Lư sơn cao đồ –  Bảo tàng Cung điện Quốc gia ,Đài Bắc, Đài Loan

dai-jin_returning-late-from-a-spring-outing-510x1024-300x590

Đái Tiến (thời nhà Minh)- Xuân du vãn quy – Bảo tàng Cung điện Quốc gia ,Đài Bắc, Đài Loan

 

Trong sự phát triển sau này của văn nhân họa , không ai đóng vai trò quan trọng được như Đổng Kì Xương (董其昌, 1555–1636), người thăng đến đại quan thời hoàng đế Vạn Lịch.Ông không  chỉ thể hiện những lý tưởng mĩ học của giai tầng ông thuộc về trong các bức họa mà ông còn phát biểu thành hệ thống lí thuyết thông qua những tác phẩm phê bình.Chính ông với việc vay mượn ý tưởng do thi nhân-họa gia Đỗ Quỳnh (杜瓊, 1396–1474) nêu ra đầu tiên trong thế kỉ 15 đã  lập ra lí thuyết về các trường phái Nam Tông và Bắc Tông nhằm diễn tả mục đích trong việc chứng minh cho sự ưu trội của văn nhân họa so với những trường phái hội họa khác.Đổng Kì Xương gợi lại truyền thống học giả-họa sĩ độc lập của Nam Tông bởi vì ông nhìn thấy trong đó sự tương đồng với Nam Tông của Thiền Tông thời nhà Đường với quan điểm khi cho rằng sự giác ngộ xảy đến một cách tự nhiên và bất ngờ, trái với quan niệm tiệm ngộ của Bắc Tông khi cho rằng sự giác ngộ chỉ có được một cách từ từ sau một đời chuẩn bị và luyện tập.Lí thuyết này chi phối phê bình hội họa Trung Quốc hơn 300 năm nhưng sự bất nhất của nó cũng gây ra không biết bao nhiêu sự nhầm lẫn và tranh cãi giữa các học giả sau này.Tuy nhiên, nó cũng phân biệt chính xác hai hình thức hội họa, hình thức đầu tiên với những biểu hiện thuần khiết nhất có tính học thuật, chiết trung, chuẩn xác và mang tính trang trí; hình thức còn lại thì phóng khoáng, mĩ lệ, riêng tư và chủ quan.

dong-qichang_shady-trees-in-a-summer-landscape-300x580.jpg

Đổng Kì Xương (thời nhà Minh)- Hạ mộc thùy âm đồ –  Bảo tàng Cung điện Quốc gia ,Đài Bắc, Đài Loan

Trịnh Ngọc Thìn dịch

Bình Phước, 22/11/2017

Nguồn: http://www.comuseum.com/painting/landscape-painting/

Tranh sơn thủy (P2)

Sau cuộc xâm lăng của người Nữ Chân, triều đình nhà Tống đào thoát xuống miền nam. Truyền thống kinh điển của miền bắc đã được cải  biến và truyền sang nhà Nam Tống bởi họa gia Lí Đường (李 唐), người được ca tụng với phong cách hoành tráng dựa trên  “lối vẽ với đường nét như búa bổ” (phủ phách thuân, 斧 劈 皴). Ông đã là lão nhân khi kinh đô Biện Lương của triều Bắc Tống sụp đổ và hầu hết các tác phẩm của ông chắc hẳn đã biến mất cùng với bộ sưu tập của triều đình.Nhưng các bản sao, các bức tranh được cho là do ông sáng tác cùng các nguồn văn chương đều cho thấy rằng phong cách và ảnh hưởng của ông thống trị lối biểu hiện của giới họa sĩ trong thế kỉ 12, điều này khiến ông trở thành một mắt xích quan trọng giữa sự hùng tráng xa xăm của những bậc đại sư Bắc Tống và chủ nghĩa lãng mạn nổi trội của những họa gia Nam Tống như Mã Viễn (馬 遠) và Hạ Khuê (夏圭). Tiếp tục đọc

Tranh sơn thủy (P1)

Nhiều nhà phê bình xem tranh sơn thủy là hình thái cao nhất của hội họa Trung Quốc.Tranh sơn thủy thoạt đầu xuất hiện như là thành tố của tranh nhân vật giúp tạo bối cảnh tự nhiên cho việc kể chuyện.Một trong những bức họa mẫu sớm nhất là Lạc thần phú đồ của Cố Khải Chi (344–406). Tranh gốc không còn nữa nhưng có các bản sao thời nhà Tống (960–1279) đang còn ở Cố Cung bác vật viện, Bắc Kinh và Phòng triển lãm mỹ thuật Freer, Washington, D.C.

gu-kaizhi_nymph_part-1024x341-750x250.jpg

Cố Khải Chi (thời nhà Tấn) – Lạc thần phú đồ Tiếp tục đọc

Tranh hoa điểu (Hoa)

Hoa biểu trưng cho vẻ đẹp của nữ nhân và không chỉ thế ta còn thấy trong tranh hoa điểu, người ta vẽ hoa với ngụ ý chỉ sự cát tường hay hạnh phúc. Mỗi loài hoa có vẻ mỹ lệ yêu kiều riêng và vẻ đẹp ấy còn được tôn lên nhờ vào biểu tượng tính ẩn trong các bức cổ họa .

1.Tuế triêu lệ cảnh – Trần Thư (陳書, 1660-1736)- đời nhà Thanh

5414639694_cdca7998e8_b.jpg

Có nhiều ý nghĩa trong bức họa này. Tảng đá trong tranh biểu tượng cho sự trường thọ.Hoa thủy tiên (水仙) và hoa thược dược (thiên trúc 天竺) kết hợp với nhau tạo thành lời chúc Thiên Tiên Củng Thọ. Hoa bách hợp ( 百合), hoa hồng vàng (thị tử  柿子), linh chi ( 靈芝) và táo (bình quả 蘋果)  có thể hiểu như Bách Sự Như Ý hoặc Bình An Như Ý. Tiếp tục đọc

Tranh hoa điểu (Chim chóc)

Nói đến hội họa Trung Quốc thì không thể không nói đến tranh hoa điểu.Bốn đề tài lớn trong dòng tranh này gồm hoa – điểu – ngư  – trùng với hai bậc đại sư đó là Hoàng Thuyên thiên về phong cách tả chân [tả sinh 寫生] khi vẽ chim chóc và Từ Hi với phong cách tả ý [寫意] . Khi ngắm những bức tranh hoa điểu người xem sẽ gặp nhiều những biểu tượng thú vị ẩn tàng, thường thì là những lời chúc may mắn, hạnh phúc hoặc một thông điệp nào đó của người vẽ. Tiếp tục đọc

Thú vật (Từ điển biểu tượng Trung Quốc )

Thú

image1034

Người Trung Quốc chia loài vật thành năm loài, mỗi loài có đại diện riêng: loài lông vũ với đại diện là phượng hoàng, loài lông thú là kì lân, loài vô mao là con người, loài có vảy là rồng và loài có mai là rùa. Tiếp tục đọc