Bồ câu (Từ điển biểu tượng Trung Quốc )

Cáp

鴿

Tại Ấn Độ thời cổ, bồ câu là loài chim của cái chết và thế giới hồn ma; tại Rome, nó là loài chim của tình yêu; tại Trung Quốc nó biểu tượng cho lòng trung thành và sự trường thọ, có thể vì bồ câu  kết đôi trọn đời và cả hai  đều chia sẻ việc nuôi dưỡng con non. Từ triều nhà Đường, bồ câu đã xuất hiện trên khăn trùm đầu của “nữ thần ẵm bồng trẻ con” ( tống tử nương nương), vì vậy chim bồ câu cũng có thể được coi là biểu tượng cho tính phồn thực.  Bồ câu đưa thư cũng đã được sử dụng đồng thời.

Trịnh Hoài Kha dịch

Bình Phước, 23/7/2017

 

Nguồn:
Wolfram Eberhard, J. E. “Dove” Dictionary of Chinese Symbols: Hidden Symbols in Chinese Life and Thought. Translated from the German by G. L. Campbell . Routledge & Kegan Paul.1986

Heidegger và Đức Quốc xã – Stephen Michelman

Quyết định của Heidegger vào tháng 3 năm 1933 đảm nhận chức hiệu trưởng quốc xã trường Đại học Freiburg là chương u tối và gây tranh cãi nhất trong lịch sử của chủ nghĩa hiện sinh. Hành động của Heidegger gợi sự so sánh tới mối liên hệ xui rủi của Plato, 2.300 năm trước, với Dionysius Con, bạo chúa  xứ  Syracuse. Giống như Plato, Heidegger đặt triết lý trên bệ thờ bằng nhiều hơn  những hình thức thế tục về cuộc tra vấn của con người, và giống như vị triết gia Hy Lạp hình như ông ấy coi mình là một “triết gia-vua”, người có thể sử  dụng sự thông thái của mình cho những mục đích chính trị. Vào thời kỳ đỉnh điểm của sự liên đới, Hiedegger viết cho Karl Jaspers rằng mục đích của ông khi đảm nhận chức hiệu trưởng là để “dẫn lối Lãnh tụ” (den Führerzuführen”),” [4] nghĩa là hướng dẫn Hitler trong việc làm thức tỉnh tinh thần của dân tộc Đức. Tiếp tục đọc

Tình (Từ điển biểu tượng Trung Quốc )

Tình

Khi được hỏi điều gì có tầm quan trọng bậc nhất liên quan đến những lễ nghi, Khổng Tử trả lời rằng các lễ nghi  mang đến cho con người kiểu mẫu của sự điều độ để mà nhắm tới: “Niềm vui và nỗi buồn phải cân bằng (học thuyết trung dung).

Nếu chúng ta nhượng bộ tình cảm và thể hiện chúng công khai thì chúng ta đã để cho những chuẩn mực (Đạo) của lũ mọi rợ định hướng bản thân. Tiếp tục đọc

Luận về phụ nữ ( Arthur Schopenhauer )

Bài thơ của Schiller ca tụng phụ nữ, Wuerde der Frauen (1), là kết quả của những suy tư nghiêm túc, và người đọc bị thu hút là nhờ phong cách phản đề và việc sử dụng biện pháp tương phản; nhưng cách diễn đạt trong những lời tán tụng chân thật xét ra là dành cho họ, tôi nghĩ rằng nó thua xa những câu sau đây của Jouy : Thiếu phụ nữ, giai đoạn đầu đời sẽ vô dụng, trung niên thì vắng bóng lạc thú; đến cuối đời phải trông nhờ an ủi. Những câu tương tự được diễn tả một cách xúc động trong vở kịch  Sardanapalus của Byron:

Sự sống của con người khởi nguồn chính là từ bộ ngực của phụ nữ,

Những tiếng bi bô đầu tiên học từ đôi môi của họ,

Những giọt nước mắt đầu tiên  được họ lau sạch, và cả những tiếng thở dài lần cuối

Thường được thở hắt ra để họ lắng nghe,

Khi đàn ông chùn bước trước nỗi âu lo đớn hèn

 Bởi đến phút cuối đời thức canh xem ai là người dẫn đạo

(Hồi  I Cảnh 2)
Tiếp tục đọc

Băng (Từ điển biểu tượng Trung Quốc )

Băng

 冰

 Bức họa mô tả một đứa bé đứng trên băng vào một ngày đông là ngụ ý chỉ Vương Tường, một trong hai mươi bốn  tấm gương  trong Nhị thập tứ hiếu. Khi mẹ cậu bị bệnh, người ta nói rằng bà thèm ăn cá chép trong mùa đông, thế là cậu bé bèn đi tới dòng sông đóng băng và ngồi trên đó đủ lâu khiến cho băng tan, ngay lập tức có con cá chép lớn nhảy lên. Tiếp tục đọc

Kịch: Nữ ca sĩ hói đầu -P4 (Eugène Ionesco)

BÀ MARTIN: Không bao giờ.

ÔNG MARTIN: Không hoàn toàn là như thế.

ÔNG SMITH: Sự thật là điều đó sai. Khi nghe thấy chuông cửa reo thì phải có ai đó.

BÀ  SMITH: Anh ấy sẽ không tự nhận là mình sai đâu.

BÀ MARTIN: Chồng tôi cũng thường xuyên cứng đầu như vậy.

ÔNG SMITH: Ngoài đó có người.

ÔNG MARTIN: Có thể lắm.

BÀ SMITH [với chồng]: Không

ÔNG SMITH: Có Tiếp tục đọc